Latest Post


LẬP KẾ HOẠCH CHĂM SÓC BỆNH NHÂN XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

CHĂM SÓC BỆNH NHÂN BỊ XUÁT HUYẾT TIÊU HOÁ

1. Nhận định
1.1. Nhận định bằng cách hỏi bệnh
Đứng trước một bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá người điều dưỡng cần hỏi:
- Nôn ra máu hay đi ngoài ra máu?
- Nếu bệnh nhân nôn ra máu thì phải hỏi:
+ Trước khi nôn ra máu có uống thuốc gì không?
+ Máu tươi hay bầm đen?
+ Máu có lẫn thức ăn không?
+ Trước khi nôn ra máu có dấu hiệu báo trước gì không?
+ Số lượng máu nôn ra và thời gian nôn ra máu như thế nào?
- Nếu bệnh nhân đi ngoài ra máu thì hỏi:
+ Bệnh nhân đi ngoài ra máu tươi từ bao giờ?
+ Tính chất của máu có ở phân: máu tươi hay máu cục?
+ Máu ra trước phân, cùng với phân, hay máu ra sau phân?
+ Máu có lẫn chất nhầy hay mủ không?
+ Máu đen hay máu tươi?
+ Số lượng nhiều hay ít?
- Trước khi nôn ra máu, đi ngoài phân có máu, có lao động nặng gì không?
- Có lo lắng gì không?
- Có sốt không?
- Có đau bụng khi nôn hoặc khi đại tiện không?
- Có bị bệnh lý dạ dày hay tá tràng không?
- Các thuốc đã sử dụng và các bệnh đã mắc trước đó
1.2. Quan sát bệnh nhân, cần chú ý:
- Tình trạng tinh thần
- Tình trạng toàn thân
- Tính chất của chất nôn và phân
- Tư thế chống đau
1.3. Thăm khám bệnh nhân
- Lấy dấu hiệu sống: chú ý mạch và huyết áp.
- Khám bụng: chú ý vùng thượng vị.
- Thăm trực tràng nếu có chỉ định.
- Xem xét các xét nghiệm nếu có.
1.4. Nhận định qua thu thập các dữ liệu khác
- Qua hồ sơ và các phiếu xét nghiệm
- Sử dụng các thuốc và cách sử dụng thuốc
- Qua gia đình bệnh nhân
2. Chẩn đoán điều dưỡng
Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể có ở những bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa:
  1. Chóng mặt do mất máu.
  2. Chảy máu do loét dạ dày tá tràng.
  3. Lo lắng do tình trạng bệnh cấp và nặng.
  4. Chảy máu do viêm loét polyp trực tràng.
  5. Dinh dưỡng không đáp ứng do không thực hiện chế độ ăn đúng
  6. Bệnh nhân đau vùng thượng vị do tăng tiết dịch vị
3. Lập kế hoạch chăm sóc
- Cho bệnh nhân nhịn ăn, nằm yên tĩnh trong 24 giờ đầu.
- Trấn an bệnh nhân.
- Thực hiện các y lệnh kịp thời và chính xác.
- Theo dõi và phát hiện có tình trạng mất máu nặng.
- Hướng dẫn người nhà bệnh nhân cách theo dõi và chăm sóc.
2.4. Thực hiện kế hoạch chăm sóc
2.4.1. Chăm sóc cơ bản
- Bệnh nhân phải nằm tại giường, đầu không kê gối. Phòng nghỉ yên tĩnh
- Động viên để bệnh nhân yên tâm, tránh lo lắng
- Cho bệnh nhân thở oxy nếu tình trạng chảy máu nặng có choáng
- Đặt catheter và truyền giữ mạch bằng nước muối đẳng trương
- Đặt ống thông dạ dày tá tràng hút hết máu đông trong dạ dày, đồng thời theo dõi tình trạng chảy máu qua ống thông.
- Đi đại tiện tại giường để theo dõi tính chất phân
- Khi hết nôn ra máu cho bệnh nhân ăn nhẹ: sữa, cháo, súp…
4.2. Thực hiện y lệnh
- Thực hiện các thuốc cho bệnh nhân theo y lệnh một cách khẩn trương
- Lấy máu xét nghiệm theo y lệnh, chụp X quang
- Phụ giúp đặt catheter đo áp lực tĩnh mạch trung tâm khi có chỉ định
4.3. Theo dõi bệnh nhân
- Lấy mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở 30 phút một lần nếu bất thường báo bác sĩ xử trí kịp thời
- Theo dõi tình trạng tinh thần của bệnh nhân.
- Đo lượng nước tiểu để phát hiện triệu chứng thiểu niệu hoặc vô niệu.
- Theo dõi tình trạng nôn và tính chất của chất nôn.
- Theo dõi tình trạng đau bụng và tính chất của phân (màu sắc, số lần, số lượng máu và phân của bệnh nhân)
- Theo dõi việc sử dụng thuốc.
- Theo dõi tình trạng toàn thân để phát hiện sớm tình trạng mất máu (da niêm mạc nhợt, mạch nhanh, huyết áp thấp, chóng mặt…)
4.4. Giáo dục sức khoẻ
- Phòng và tránh bị bệnh bằng cách lao động, nghỉ ngơi hợp lý, tránh lo lắng.
- Không nên uống rượu, cà phê nhiều.
- Sử dụng các thuốc kháng viêm hợp lý và đúng cách.
- Phát hiện sớm các bệnh lý ở đường tiêu hoá và điều trị triệt để.
- Phát hiện sớm các dấu hiệu xuất huyết tiêu hoá và tích cực điều trị.
5. Đánh giá quá trình chăm sóc
Đối với bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá được đánh giá chăm sóc tốt khi:
- Bệnh nhân được nghỉ ngơi yên tĩnh, an tâm điều trị
- Tình trạng chảy máu giảm hoặc mất
- Các dấu hiệu sống ổn định
- Lượng nước tiểu tăng lên
- Bệnh nhân được cho ăn, uống theo chế độ hợp lý.
- Nguyên nhân gây xuất huyết được giải quyết.
- Thực hiện các y lệnh của bác sĩ khẩn trương, đầy đủ, chính xác
- Khi ra viện, bệnh nhân được hướng dẫn cách phát hiện sớm nhất tình trạng xuất huyết tiêu hoá và các nguyên nhân có thể gây xuất huyết tiêu hoá.


Kế hoạch chăm sóc bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (copd)
 KẾ HOẠCH CHĂM SÓC BỆNH NHÂN
I. HÀNH CHÍNH
- Họ và tên bệnh nhân : NGUYỄN KHÁNH DẦN Tuổi :74 Giới: Nam
- Dân tộc: Kinh Trình độ văn hóa : 10/10
- Nghề nghiệp : Hưu trí
- Địa chỉ: Tổ 28 – P. Hoàng Văn Thụ - TP TN Khoa : Nội 3 Phòng : CC
- Ngày vào viện: 08 giờ 15 phút ngày 12 tháng 8 năm 2012
- Lý do vào viện: Khó thở
- Họ tên người chăm sóc: Con trai: Nguyễn Hoàng Trung Tuổi : 53 Giới : Nam
- Dân tộc: Kinh Trình độ văn hóa: 10/10
- Địa chỉ báo tin khi cần: con trai Nguyễn Hoàng Trung cùng địa chỉ
- Chẩn đoán y khoa: COPD đợt cấp
- Chăm sóc bệnh nhân: COPD đợt cấp ngày thứ 6 vào viện
II. NHẬN ĐỊNH CHĂM SÓC.
1. Quá trình bệnh lý :
• Cách ngày vào viện 3 ngày bệnh nhân cảm thấy khó thở, khó thở thường xuyên, khó thở cả lúc nghỉ ngơi, khó thở 2 thì, khó thở tăng khi gắng sức, có kèm theo ho có đờm, ho rải rác trong ngày, đờm lúc đầu dặc màu xanh sau đó đờm màu trắng loãng, lượng đờm trong 24h khoảng 100 ml, ho kèm theo đau họng, đau bụng, nói khó. Lúc khó thở bệnh nhân tím tái, mệt nhọc và vã mồ hôi, không sốt, có tiếng cò cử. Bệnh nhân không ăn được cơm chỉ ăn được cháo thịt và uống sữa. ở nhà đã dùng thuốc khí dung Combivent kết hợp vỗ rung lồng ngục 3-4 lần/ngày, mỗi lần khoảng 5-10 phút nhưng không đỡ xin vào viện khám và điều trị.
• Lúc vào viện bệnh nhân tỉnh tiếp xúc được, da niêm mạc hồng, hạch ngoại vi tuyến giáp không to, ho nhiều có đờm khó thở, nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy, ran nổ 2 bên phổi, rung thanh giảm, tim nhịp đều T1T2 rõ, tần số 76 ck/p.
• Bệnh nhân được chẩn đoán y khoa là: COPD đợt cấp.
• Bệnh nhân đã được điều trị bằng các thuốc: Kháng sinh, giãn cơ trơn phế quản, xịt họng, khí dung, thở oxy, bảo vệ niêm mạc dạ dày, vitamin.
- Hiện tại: Bn còn khó thở,ho nhiều, ngủ kém, ăn uống kém.
2. Tiền sử
- Bản thân:
+ Bệnh nhân bị điếc cách đây 20 năm.
+ Năm 2010: + Đi khám sức khỏe định kỳ phát hiện COPD, triệu chứng: ho,khó thở, mệt nhưng không tím tái và không vã mồ hôi, cơn khó thở xuất hiện không thường xuyên, chỉ khi thay đổi thời tiết và khi gắng sức. Mỗi lần lên cơn hen bệnh nhân đã dùng Combivent, Ventolin, Salbutamon theo đơn của bác sĩ.
+ Phát hiện u tuyến tiền liệt năm 2009 và được mổ năm 2010.
+ Ngày 22-7-2012 bệnh nhân được điều trị tại bệnh viện Lao Và Bệnh Phổi Thái Nguyên và được chẩn đoán là COPD đợt cấp. Ra viện ngày 07-08-2012.
+ Không dị ứng với thức ăn,đồ uống và thuốc.
- Gia đình: chưa phát hiện bệnh lý liên quan.
3. Hiện tại: 7 giờ ngày 18 tháng 08 năm 2012
Triệu chứng cơ năng:
- Bệnh nhân có khó thở thường xuyên ngay cả khi nằm, bệnh nhân phải ngồi dậy cho đỡ khó thở, ho nhiều, có đờm trắng loãng, dính ngày 4-5 lần số lượng 15-20 ml/24h, không có đau ngực.
- Bệnh nhân đau bụng, đau họng kèm theo nói khó, nói ngắt quãng, nói một lúc thấy mệt.
- Bệnh nhân có mệt mỏi.
-bệnh nhân khó nghe do bị nặng tai.
Triệu chứng thực thể:
- Toàn thân: +Tinh thần: Bệnh nhân còn lo lắng về bệnh tật
+ Thể trạng: Trung bình (BMI: 55/1,722 = 18,6).
+ Da, niêm mạc hồng.
+ Tổ chức dưới da không phù,có xuyết huyết tại nơi tiêm ở cổ tay, đường kính 5cm, màu tím, ấn mềm.
+ DHST: Mạch: 72 l/p; Nhiệt độ: 36,8oc; Huyết áp: 130/90 mmHg; Nhịp thở: 25 l/p.
+ SL nước tiểu: 1,2 l/24h.
- Khám các cơ quan:
+ Cơ quan hô hấp: Lồng ngực trước sau hai bên cân đối.
Rung thanh giảm cả 2 bên phổi.
Gõ phổi đục.
Nghe phổi RRFN giảm, có ran rít, ran ngáy, ran nổ 2 bên phổi.
+ Cơ quam tuần hoàn: Lồng ngực trước tim 2 bên cân đối.
Mỏm tim đập ở KLS 5 trên đường giữa đòn trái.
Diện đục tương đối của tim bình thường.
Tim nhịp đều, T1T2 rõ, tần số 76ck/ph.
+ Cơ quan tiêu hóa: Bụng thon, đều không chướng, di động theo nhịp thở.
Gan lách không to.
+ Cơ quan tiết niệu: Hố thận 2 bên không sưng đỏ, không thấy có u gồ lên.
Ấn các điểm niệu quản không đau.
Dấu hiệu chạm thận, bập bềnh thận (-).
+ Khám răng-hàm-mặt: Rụng sáu răng hàm cả hai hàm, lợi hồng nhạt không viêm, rụng răng do tuổi già.
+ Tai mũi họng: Hiện tại bị điếc
+ Các cơ quan khác: Chưa phát hiện gì bất thường.
Các vấn đề khác:
- Chế độ ăn: bệnh nhân ăn 3 bữa chính/ ngày,bữa sáng ăn 1 bát cháo thịt băm, bữa trưa và tối mỗi bữa ăn được 1 bát cơm với thịt nạc và canh rau,uống 2-3 lít nước/ngày.Ngoài ra,bệnh nhân ăn 2 bữa phụ: uống sữa và ăn hoa quả, nhưng vẫn còn cảm giác chưa ngon miệng so với lúc còn khỏe mạnh.
- Chế độ ngủ: Bệnh nhân ngủ 6h/24h ngày ngủ 1 tiếng đêm ngủ 5 tiếng, chia thành nhiều giấc ngủ, ngủ không sâu giấc,thức giấc và ho lúc khoảng 0h và 3-4h sáng, khi hết cơn ho thì bệnh nhân ngủ tiếp.
- Chế độ vận động: Bệnh nhân ít vận động, chỉ nằm, ngồi trên giường và đi lại lúc vệ sinh cá nhân.Khi đi lại bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi nhiều.
- Chế độ vệ sinh: + vệ sinh cá nhân: vệ sinh phụ thuộc, tắm, gội đầu 2 ngày 1 lần, vệ sinh răng miệng kém (ít đánh răng, chỉ súc miệng bằng nước muối ngày 2 lần). Tiểu tiện tại giường, đại tiện ra nhà vệ sinh có người dìu.
+Vệ sinh buồng bệnh: Gọn gàng, sạch sẽ (người nhà trợ giúp).
Cận lâm sàng
- Sinh hóa máu: Glucose: 7,5 mmol/l (tăng)
Các kết quả xét nghiệm , cận lâm sàng khác: bình thường
Các thuốc dùng trong ngày 18/8/2012:
- Ciprofloxacin 250mg x 2 lọ (truyền TM XXX g/p 8h-16h)
- Combivent 2,6ml x 3 ống (khí dung 8h-16h-20h)
- Methylprednisolon 4mg x 2 ống(tiêm TM 8h-10h)
- Omeprazol 20mg x 1 viên (uống 10h)
- Magie B6 x 2 viên(uống 8h-10h)
- Ventolin spray (xịt họng ngày 2 lần)
- Salbutamol 4mg x 2 viên(uống 10h-16h)
4.Chẩn đoán chăm sóc.
4.1.Khó thở do co thắt cơ trơn phế quản và tăng tiết dịch phế quản
4.2. Đau cơ bụng , đau họng , ngủ kém do bệnh nhân ho nhiều.
4.3. Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến ăn kém,
4.4. Nguy cơ thiếu oxy máu do giảm trao đổi khí ở phổi.
4.5. Bn có xuất huyết tại vị trí tiêm do thành mạch kém bền vững
4.6. Bệnh nhân giảm khả năng giao tiếp do bị nặng tai
4.7. Bệnh nhân lo lắng do thay đổii tình trạng sức khỏe
5: Lập kế hoạch chăm sóc
5.1.Khó thở do co thắt cơ trơn phế quản và tăng tiết dịch phế quản *Tăng cường lưu thông đường thở cho bệnh nhân-:
- Để bệnh nhân nằm tư thế nửa nằm nửa ngồi.
- Hướng dẫn bệnh nhân uống nhiều nước (2,5 l/24h)
- Nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý ngày 3 lần, mỗi lần 10 giọt
- Hướng dẫn vỗ rung lồng ngực 3 lần/ngày, mỗi lần 15p.
- Hướng dẫn tập ho có hiệu quả 3 lần/ngày
- Thực hiện y lệnh thuốc giãn phế quản
- Theo dõi tình trạng khó thở 6h/lần.
(tím tái môi, đầu chi, tinh thần, nhịp thở)
5.2. Đau cơ bụng , đau họng , ngủ kém do bệnh nhân ho nhiều. - Giảm đau cơ bụng , đau họng, giảm ho cho bệnh nhân:
+ Hướng dẫn nằm nghỉ ngơi tai giường.
+ Hướng dẫn bệnh nhân ngồi dậy khi ho và trùng cơ bụng
+ Thực hiện y lệnh thuốc kháng sinh, giảm đau chống viêm
+ Hướng dẫn bệnh nhân không sử dụng chất kích thích như rượu, nước chè
+ Hướng dẫn bệnh nhân uống chè actiso, chè tâm sen
+ Theo dõi tình trạng đau cơ bụng đau họng của bệnh nhân 2lần/ngày
5.3. Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến ăn kém
* Đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân:
- Giải thích cho bệnh nhân cảm giác mất ngon miệng là do tác dụng phụ của thuốc chứ không phải là một bệnh lý
- Động viên bệnh nhân ăn uống đủ bữa, đúng giờ
- Hướng dẫn người nhà bệnh nhân chế biến thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, ăn giảm mỡ, đường và tinh bột, tăng cường vitamin, ăn thành nhiều bữa.
- Thực hiện y lệnh thuốc bổ sung Mangie
- Theo dõi đáp ứng dinh dưỡng
5.4. Nguy cơ thiếu oxy máu do giảm trao đổi khí ở phổi
*Phòng nguy cơ thiếu oxy máu và trao đổi khí ở phổi:
- Hướng dẫn bệnh nhân nằm nghỉ ngơi tại giường ở tư thế đầu cao
- Cho bệnh nhân thở oxy 3l/phút, thở ngắt quãng
- Theo dõi tần số thở, tình trạng tím da và mạch.tinh thần 6h/lần.
( Nếu có tình trạng thiếu oxy máu nặng phải báo cao ngay với bác sỹ.)
5.5. Bn có xuất huyết tại vị trí tiêm do thành mạch kém bền vững * Giảm xuất huyết cho bn:
- Hướng dẫn bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường
- Hướng dẫn bệnh nhân chườm ấm tại vị trí xuất huyết 2 lần/ngày, mỗi lần 10 phút.
- Hướng dẫn bệnh nhân ăn đầy đủ chất dinh dưỡng , tăng cường rau xanh, hoa quả...
- Theo dõi tình trạng xuất huyết
5.6. Bệnh nhân giảm khả năng giao tiếp do bị nặng tai
* Cải thiện khả năng giao tiếp cho bệnh nhân:
- Nói to, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, không quát mắng bn
- Sử dụng bảng, giấy để viết cho bệnh nhân hiểu hoặc dùng hành động để diễn tả
5.7. Bệnh nhân lo lắng do thay đổii tình trạng sức khỏe
* Giảm lo lắng cho bệnh nhân:
+ Khuyến khích bệnh nhân giãi bày những lo lắng, giải thích cho bệnh nhân hiểu về bệnh của họ.
+ Động viên bn yên tâm điều trị.
+ Khuyên người nhà động viên bn điều trị.
+ Hướng dẫn bệnh nhân những phương pháp nghỉ ngơi thư giãn: đọc báo, xem tivi...
Hình ảnh: Kế hoạch chăm sóc bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (copd
Phần II: KẾ HOẠCH CHĂM SÓC BỆNH NHÂN
I. HÀNH CHÍNH
- Họ và tên bệnh nhân : NGUYỄN KHÁNH DẦN Tuổi :74 Giới: Nam
- Dân tộc: Kinh Trình độ văn hóa : 10/10
- Nghề nghiệp : Hưu trí
- Địa chỉ: Tổ 28 – P. Hoàng Văn Thụ - TP TN Khoa : Nội 3 Phòng : CC
- Ngày vào viện: 08 giờ 15 phút ngày 12 tháng 8 năm 2012
- Lý do vào viện: Khó thở
- Họ tên người chăm sóc: Con trai: Nguyễn Hoàng Trung Tuổi : 53 Giới : Nam
- Dân tộc: Kinh Trình độ văn hóa: 10/10
- Địa chỉ báo tin khi cần: con trai Nguyễn Hoàng Trung cùng địa chỉ
- Chẩn đoán y khoa: COPD đợt cấp
- Chăm sóc bệnh nhân: COPD đợt cấp ngày thứ 6 vào viện
II. NHẬN ĐỊNH CHĂM SÓC.
1. Quá trình bệnh lý :
• Cách ngày vào viện 3 ngày bệnh nhân cảm thấy khó thở, khó thở thường xuyên, khó thở cả lúc nghỉ ngơi, khó thở 2 thì, khó thở tăng khi gắng sức, có kèm theo ho có đờm, ho rải rác trong ngày, đờm lúc đầu dặc màu xanh sau đó đờm màu trắng loãng, lượng đờm trong 24h khoảng 100 ml, ho kèm theo đau họng, đau bụng, nói khó. Lúc khó thở bệnh nhân tím tái, mệt nhọc và vã mồ hôi, không sốt, có tiếng cò cử. Bệnh nhân không ăn được cơm chỉ ăn được cháo thịt và uống sữa. ở nhà đã dùng thuốc khí dung Combivent kết hợp vỗ rung lồng ngục 3-4 lần/ngày, mỗi lần khoảng 5-10 phút nhưng không đỡ xin vào viện khám và điều trị.
• Lúc vào viện bệnh nhân tỉnh tiếp xúc được, da niêm mạc hồng, hạch ngoại vi tuyến giáp không to, ho nhiều có đờm khó thở, nghe phổi có nhiều ran rít, ran ngáy, ran nổ 2 bên phổi, rung thanh giảm, tim nhịp đều T1T2 rõ, tần số 76 ck/p.
• Bệnh nhân được chẩn đoán y khoa là: COPD đợt cấp.
• Bệnh nhân đã được điều trị bằng các thuốc: Kháng sinh, giãn cơ trơn phế quản, xịt họng, khí dung, thở oxy, bảo vệ niêm mạc dạ dày, vitamin.
- Hiện tại: Bn còn khó thở,ho nhiều, ngủ kém, ăn uống kém.
2. Tiền sử
- Bản thân:
+ Bệnh nhân bị điếc cách đây 20 năm.
+ Năm 2010: + Đi khám sức khỏe định kỳ phát hiện COPD, triệu chứng: ho,khó thở, mệt nhưng không tím tái và không vã mồ hôi, cơn khó thở xuất hiện không thường xuyên, chỉ khi thay đổi thời tiết và khi gắng sức. Mỗi lần lên cơn hen bệnh nhân đã dùng Combivent, Ventolin, Salbutamon theo đơn của bác sĩ.
+ Phát hiện u tuyến tiền liệt năm 2009 và được mổ năm 2010.
+ Ngày 22-7-2012 bệnh nhân được điều trị tại bệnh viện Lao Và Bệnh Phổi Thái Nguyên và được chẩn đoán là COPD đợt cấp. Ra viện ngày 07-08-2012.
+ Không dị ứng với thức ăn,đồ uống và thuốc.
- Gia đình: chưa phát hiện bệnh lý liên quan.
3. Hiện tại: 7 giờ ngày 18 tháng 08 năm 2012
Triệu chứng cơ năng:
- Bệnh nhân có khó thở thường xuyên ngay cả khi nằm, bệnh nhân phải ngồi dậy cho đỡ khó thở, ho nhiều, có đờm trắng loãng, dính ngày 4-5 lần số lượng 15-20 ml/24h, không có đau ngực.
- Bệnh nhân đau bụng, đau họng kèm theo nói khó, nói ngắt quãng, nói một lúc thấy mệt.
- Bệnh nhân có mệt mỏi.
-bệnh nhân khó nghe do bị nặng tai.
Triệu chứng thực thể:
- Toàn thân: +Tinh thần: Bệnh nhân còn lo lắng về bệnh tật
+ Thể trạng: Trung bình (BMI: 55/1,722 = 18,6).
+ Da, niêm mạc hồng.
+ Tổ chức dưới da không phù,có xuyết huyết tại nơi tiêm ở cổ tay, đường kính 5cm, màu tím, ấn mềm.
+ DHST: Mạch: 72 l/p; Nhiệt độ: 36,8oc; Huyết áp: 130/90 mmHg; Nhịp thở: 25 l/p.
+ SL nước tiểu: 1,2 l/24h.
- Khám các cơ quan:
+ Cơ quan hô hấp: Lồng ngực trước sau hai bên cân đối.
Rung thanh giảm cả 2 bên phổi.
Gõ phổi đục.
Nghe phổi RRFN giảm, có ran rít, ran ngáy, ran nổ 2 bên phổi.
+ Cơ quam tuần hoàn: Lồng ngực trước tim 2 bên cân đối.
Mỏm tim đập ở KLS 5 trên đường giữa đòn trái.
Diện đục tương đối của tim bình thường.
Tim nhịp đều, T1T2 rõ, tần số 76ck/ph.
+ Cơ quan tiêu hóa: Bụng thon, đều không chướng, di động theo nhịp thở.
Gan lách không to.
+ Cơ quan tiết niệu: Hố thận 2 bên không sưng đỏ, không thấy có u gồ lên.
Ấn các điểm niệu quản không đau.
Dấu hiệu chạm thận, bập bềnh thận (-).
+ Khám răng-hàm-mặt: Rụng sáu răng hàm cả hai hàm, lợi hồng nhạt không viêm, rụng răng do tuổi già.
+ Tai mũi họng: Hiện tại bị điếc
+ Các cơ quan khác: Chưa phát hiện gì bất thường.
Các vấn đề khác:
- Chế độ ăn: bệnh nhân ăn 3 bữa chính/ ngày,bữa sáng ăn 1 bát cháo thịt băm, bữa trưa và tối mỗi bữa ăn được 1 bát cơm với thịt nạc và canh rau,uống 2-3 lít nước/ngày.Ngoài ra,bệnh nhân ăn 2 bữa phụ: uống sữa và ăn hoa quả, nhưng vẫn còn cảm giác chưa ngon miệng so với lúc còn khỏe mạnh.
- Chế độ ngủ: Bệnh nhân ngủ 6h/24h ngày ngủ 1 tiếng đêm ngủ 5 tiếng, chia thành nhiều giấc ngủ, ngủ không sâu giấc,thức giấc và ho lúc khoảng 0h và 3-4h sáng, khi hết cơn ho thì bệnh nhân ngủ tiếp.
- Chế độ vận động: Bệnh nhân ít vận động, chỉ nằm, ngồi trên giường và đi lại lúc vệ sinh cá nhân.Khi đi lại bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi nhiều.
- Chế độ vệ sinh: + vệ sinh cá nhân: vệ sinh phụ thuộc, tắm, gội đầu 2 ngày 1 lần, vệ sinh răng miệng kém (ít đánh răng, chỉ súc miệng bằng nước muối ngày 2 lần). Tiểu tiện tại giường, đại tiện ra nhà vệ sinh có người dìu.
+Vệ sinh buồng bệnh: Gọn gàng, sạch sẽ (người nhà trợ giúp).
Cận lâm sàng
- Sinh hóa máu: Glucose: 7,5 mmol/l (tăng)
Các kết quả xét nghiệm , cận lâm sàng khác: bình thường
Các thuốc dùng trong ngày 18/8/2012:
- Ciprofloxacin 250mg x 2 lọ (truyền TM XXX g/p 8h-16h)
- Combivent 2,6ml x 3 ống (khí dung 8h-16h-20h)
- Methylprednisolon 4mg x 2 ống(tiêm TM 8h-10h)
- Omeprazol 20mg x 1 viên (uống 10h)
- Magie B6 x 2 viên(uống 8h-10h)
- Ventolin spray (xịt họng ngày 2 lần)
- Salbutamol 4mg x 2 viên(uống 10h-16h)
4.Chẩn đoán chăm sóc.
4.1.Khó thở do co thắt cơ trơn phế quản và tăng tiết dịch phế quản
4.2. Đau cơ bụng , đau họng , ngủ kém do bệnh nhân ho nhiều.
4.3. Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến ăn kém,
4.4. Nguy cơ thiếu oxy máu do giảm trao đổi khí ở phổi.
4.5. Bn có xuất huyết tại vị trí tiêm do thành mạch kém bền vững
4.6. Bệnh nhân giảm khả năng giao tiếp do bị nặng tai
4.7. Bệnh nhân lo lắng do thay đổii tình trạng sức khỏe
5: Lập kế hoạch chăm sóc
5.1.Khó thở do co thắt cơ trơn phế quản và tăng tiết dịch phế quản *Tăng cường lưu thông đường thở cho bệnh nhân-:
- Để bệnh nhân nằm tư thế nửa nằm nửa ngồi.
- Hướng dẫn bệnh nhân uống nhiều nước (2,5 l/24h)
- Nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý ngày 3 lần, mỗi lần 10 giọt
- Hướng dẫn vỗ rung lồng ngực 3 lần/ngày, mỗi lần 15p.
- Hướng dẫn tập ho có hiệu quả 3 lần/ngày
- Thực hiện y lệnh thuốc giãn phế quản
- Theo dõi tình trạng khó thở 6h/lần.
(tím tái môi, đầu chi, tinh thần, nhịp thở)
5.2. Đau cơ bụng , đau họng , ngủ kém do bệnh nhân ho nhiều. - Giảm đau cơ bụng , đau họng, giảm ho cho bệnh nhân:
+ Hướng dẫn nằm nghỉ ngơi tai giường.
+ Hướng dẫn bệnh nhân ngồi dậy khi ho và trùng cơ bụng
+ Thực hiện y lệnh thuốc kháng sinh, giảm đau chống viêm
+ Hướng dẫn bệnh nhân không sử dụng chất kích thích như rượu, nước chè
+ Hướng dẫn bệnh nhân uống chè actiso, chè tâm sen
+ Theo dõi tình trạng đau cơ bụng đau họng của bệnh nhân 2lần/ngày
5.3. Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến ăn kém
* Đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân:
- Giải thích cho bệnh nhân cảm giác mất ngon miệng là do tác dụng phụ của thuốc chứ không phải là một bệnh lý
- Động viên bệnh nhân ăn uống đủ bữa, đúng giờ
- Hướng dẫn người nhà bệnh nhân chế biến thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, ăn giảm mỡ, đường và tinh bột, tăng cường vitamin, ăn thành nhiều bữa.
- Thực hiện y lệnh thuốc bổ sung Mangie
- Theo dõi đáp ứng dinh dưỡng
5.4. Nguy cơ thiếu oxy máu do giảm trao đổi khí ở phổi
*Phòng nguy cơ thiếu oxy máu và trao đổi khí ở phổi:
- Hướng dẫn bệnh nhân nằm nghỉ ngơi tại giường ở tư thế đầu cao
- Cho bệnh nhân thở oxy 3l/phút, thở ngắt quãng
- Theo dõi tần số thở, tình trạng tím da và mạch.tinh thần 6h/lần.
( Nếu có tình trạng thiếu oxy máu nặng phải báo cao ngay với bác sỹ.)
5.5. Bn có xuất huyết tại vị trí tiêm do thành mạch kém bền vững * Giảm xuất huyết cho bn:
- Hướng dẫn bệnh nhân nghỉ ngơi tại giường
- Hướng dẫn bệnh nhân chườm ấm tại vị trí xuất huyết 2 lần/ngày, mỗi lần 10 phút.
- Hướng dẫn bệnh nhân ăn đầy đủ chất dinh dưỡng , tăng cường rau xanh, hoa quả...
- Theo dõi tình trạng xuất huyết
5.6. Bệnh nhân giảm khả năng giao tiếp do bị nặng tai
* Cải thiện khả năng giao tiếp cho bệnh nhân:
- Nói to, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, không quát mắng bn
- Sử dụng bảng, giấy để viết cho bệnh nhân hiểu hoặc dùng hành động để diễn tả
5.7. Bệnh nhân lo lắng do thay đổi tình trạng sức khỏe
* Giảm lo lắng cho bệnh nhân:
+ Khuyến khích bệnh nhân giãi bày những lo lắng, giải thích cho bệnh nhân hiểu về bệnh của họ.
+ Động viên bn yên tâm điều trị.
+ Khuyên người nhà động viên bn điều trị.
+ Hướng dẫn bệnh nhân những phương pháp nghỉ ngơi thư giãn: đọc báo, xem tivi...

Sống lâu hơn nhờ uống cà phê


Những người trong độ tuổi 50-71 mỗi ngày uống từ 3 ly cà phê trở lên có thể giảm 10% nguy cơ tử vong so với những người không uống, theo nghiên cứu của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ.
Phát hiện này cho thấy uống cà phê có khả năng giảm nguy cơ tử vong do các bệnh về tim, hô hấp, đột quỵ.
Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu thói quen ăn uống của 40.0000 người không có tiền sử về bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, đột quỵ… trước khi tham gia nghiên cứu từ năm 1995 đến 1996.
Mỗi người tham gia được hỏi về lượng cà phê tiêu thụ từ 0 đến 6 ly mỗi ngày. Đồng thời, các nhà khoa học cũng theo dõi sức khỏe của họ đến sau năm 2008 hoặc đến khi qua đời.
Kết quả cho thấy chỉ cần uống hơn một ly cà phê mỗi ngày có thể giảm nguy cơ tử vong, kể cả những người bị bệnh tim mạch, tiểu đường…. Tuy nhiên, có một ngoại lệ đáng lưu ý là cà phê không giảm được tử vong do ung thư ở nữ giới.
Neal Freedman - chuyên gia đến từ Viện Ung thư Quốc gia Mỹ và là tác giả chính của nghiên cứu trên - cho biết: “Trong tương lai cần phải quan tâm nhiều vào các thành phần của cà phê. Bởi bên cạnh caffein thì trong cà phê còn chứa khoảng 1.000 hợp chất khác, một trong số chúng có thể có lợi hoặc có thể không”.
Lona Sandon, một chuyên gia dinh dưỡng tại Trung tâm Y tế Tây Nam Đại học Texas ở Dallas (Mỹ), nhận xét: “Ở mức tối thiểu, nghiên cứu này dường như để xác nhận cho những nghiên cứu từ trước tới giờ về việc uống cà phê không hề xấu mà rất hữu ích cho sức khỏe của bạn”.
Theo Nld.com.vn

6 thực phẩm không ăn với trứng

Trứng không nên nấu với bột ngọt là điều ai cũng biết. Nhưng trứng không thể nấu với đường, chưa chắc bạn đã biết.

1. Đường
Trứng sau khi được nấu chín, axit amin trong trứng và đường sẽ kết hợp với nhau hình thành chất Glycosyl lysine - phá vỡ các thành phần axit amin trong trứng. Hơn nữa, hợp chất này khó hấp thụ, tính độc, có thể làm đông máu, gây nguy hại cho cơ thể.
2. Hồng
Ăn hồng sau khi ăn trứng rất dễ bị trúng độc thực phẩm, thậm chí có thể dẫn đến viêm dạ dày cấp tính với các dấu hiệu chủ yếu như buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng.
Nếu lỡ ăn hồng sau khi ăn trứng, bạn nên uống ngay một cốc nước muối pha loãng (200 ml nước và 20 gram muối). Nếu uống xong vẫn chưa thấy buồn nôn, bạn có thể uống nhiều lần để nôn hết chất độc hại trong cơ thể. Hoặc bạn cũng có thể dùng gừng tươi nghiền nát hòa với nước ấm để uống. Trường hợp cần thiết, bạn cũng có thể uống thuốc nhuận tràng để đào thải chất độc một cách nhanh nhất.
trung-b-1377168617.jpg
Ảnh minh họa: thehealthyboy
3. Sữa đậu nành
Buổi sáng, mọi người thường có thói quen ăn trứng kết hợp với uống sữa đậu nành mà không biết rằng, protein trong trứng sẽ kết hợp với trypsin trong sữa đậu nành, gây cản trở quá trình phân hủy và hấp thụ protein trong cơ thể.
4. Thịt ngỗng, thịt thỏ
Trứng không nên ăn cùng thịt thỏ, thịt ngỗng. Bởi cả hai loại thịt này có vị ngọt tính lạnh, mà protein trong trứng cũng tính lạnh, hai chất này kết hợp với nhau sẽ kích thích hệ tiêu hóa, gây tiêu chảy.
5. Thuốc tiêu viêm
Những người mắc bệnh về đường ruột, tiêu chảy, đặc biệt không được uống thuốc ngay sau khi ăn trứng. Bởi trứng có hàm lượng protein cao, nó sẽ làm gia tăng gánh nặng cho dạ dày, ảnh hưởng đến công hiệu của thuốc. Một số bệnh viêm khác như viêm đường hô hấp, viêm đường tiết niệu, không có ảnh hưởng lớn đến quá trình hấp thụ thuốc (xét ở góc độ Tây y).
6. Nước chè
Mọi người thường có thói quen uống nước chè sau khi ăn trứng để giảm mùi khó chịu, mà không hề biết cách ăn này rất hại cho sức khỏe. Bởi axit tannic trong lá chè sẽ kết hợp với protein trong trứng tạo thành hợp chất protein axit tannic làm chậm hoạt động của nhu động ruột, kéo dài thời gian tích trữ phân trong ruột - nguyên nhân gây táo bón, tăng nguy cơ tích trữ các chất có hại cho cơ thể
.                                                             Theo vnxpress.net

Chàng trai có trái tim nằm ở bụng

Bẩm sinh, trái tim của Huang Rongming không nằm ở ngực như bình thường mà "trôi" xuống bụng. Anh đã phải trải qua phẫu thuật kéo dài 10 tiếng đồng hồ để khắc phục khuyết tật này.
Huang Rongming (24 tuổi) hiện là công nhân ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Cả cuộc đời, anh đã khổ sở bởi trái tim nhô ra từ bụng của mình. Cho đến gần đây, các bác sĩ cảnh báo tình trạng sức khỏe của anh đã xấu đi trầm trọng nên cần phẫu thuật chỉnh tim khẩn cấp. 
tim-1377250903.jpg
Chàng trai với trái tim nằm ở bụng. Đây là một trường hợp hiếm gặp, hầu hết những đứa trẻ bị dị tật như thế này đều tử vong sau khi sinh. Ảnh: ChinaDaily.
Tuy nhiên, gia đình Rongming không đủ khả năng chi trả phí phẫu thuật để đưa trái tim trở lại đúng vị trí ở lồng ngực như bình thường. Câu chuyện về hoàn cảnh đáng thương của anh đã được đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhờ đó, nhiều người hảo tâm đã giúp anh có tiền để thực hiện ca phẫu thuật thay đổi cuộc đời mình.
"Đó là một giấc mơ đã trở thành sự thật. Từ nay tôi sẽ được sống một cuộc sống bình thường như bao người khác", Rongming nói trên trang ChinaDaily.
tim2-1377250904.jpg
Khuyết tật này khiến Rongming khổ sở. 24 năm qua nó làm anh khó thở, mặt mũi lúc nào cũng tái mét như thiếu máu. Ảnh: DailyChina.
Theo các bác sĩ, trường hợp tim nằm sai vị trí như trên là rất hiếm gặp, trong 1 triệu ca sinh mới có khoảng 5 đến 8 trẻ bị. Hầu hết bệnh nhân đều chết ngay sau khi chào đời. Khi Rongming được sinh ra, các bác sĩ cũng không nghĩ rằng anh có thể sống sót, vì tim trái khuyết tật nhô ra ngoài rất dễ bị tổn thương.
Trước khi phẫu thuật, người ta có thể dễ dàng nhìn thấy trái tim của Rongming phình ra từ phần bụng trên của anh đang đập thoi thóp dưới một lớp da mỏng.
Cha mẹ của bệnh nhân cho biết, họ rất lo lắng, suốt từ khi Rongming còn nhỏ, cậu bé luôn bị cấm không được phép đùa nghịch với các bạn khác. Họ sợ con trai sẽ chết nếu có đứa trẻ nào đó vô tình va chạm vào trái tim "lộ thiên" của cậu. Ngay cả trong điều kiện bình thường, Rongming đã thấy khó thở, mỗi khi đứng lên ngồi xuống, mặt mũi anh tái mét như không còn chút máu.
Đầu năm nay, Rongming đã đến chữa trị tại bệnh viện Wuhan Union. Khi gặp lại anh, ông Dong Nianguo, một bác sĩ phẫu thuật tim từng điều trị cho anh tỏ ra rất ngạc nhiên vì cậu bé Rongming vẫn còn sống.
Xét nghiệm cho thấy tình trạng sức khỏe của Rongming hiện tại đã xấu đi nhiều. Anh cần được phẫu thuật chỉnh tim ngay lập tức với chi phí có thể khoảng 200.000 nhân dân tệ (gần 700 triệu đồng).
tim3-1377250904.jpg
Rongming đã trải qua cuộc phẫu thuật thay đổi cuộc đời mình với trái tim đã được trả về đúng vị trí ở lồng ngực. Ảnh: DailyChina.
Tuy nhiên, vì cha mẹ Rongming đều là nông dân, bản thân anh cũng đi làm công ăn lương nên không có đủ khả năng để chi trả khoản viện phí quá lớn kia. Câu chuyện của Huang đã thu hút giới truyền thông, và chỉ trong vòng sáu ngày kể từ khi cảnh ngộ của anh được đăng tải trên các báo đài, nhiều độc giả hảo tâm đã giúp đỡ anh có đủ khoản tiền trang trải cho ca mổ.
Êkíp bác sĩ đã thực hiện phẫu thuật lấy trái tim từ bụng bệnh nhân để đưa nó vào trong lồng ngực. Quá trình này kéo dài hơn 10 tiếng đồng hồ và thành công tốt đẹp. Hiện tại,  Bụng của Rongming đã phẳng và trái tim khuyết tật được cố định ở lồng ngực. "Bây giờ sức khỏe tôi bình thường lại rồi, xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những tấm lòng hảo tâm đã giúp đỡ tôi”, anh nói.
                                                                          Theo vnxpress.net

Nhiễm herpes sinh dục nữ và dùng thuốc

Herpes simples virus (HSV) gây ra  herpes sinh dục  nữ cũng như gây ra các bệnh viêm não, loét giác mạc mắt cho trẻ bị lây nhiễm HSV từ mẹ. Do ngại độc, ngại không an toàn với thai, nhiều người bệnh đã không dùng thuốc sớm, thiếu tích cực và kiên nhẫn nên bệnh hay tái phát, lây nhiễm  rộng trong cộng đồng và cho trẻ sơ sinh.
Tình trạng nhiễm HSV
HSV có 2 loại: HSV1 lây truyền qua miệng, qua nước bọt. HSV2 lây truyền qua sinh hoạt tình dục. Trước đây, HSV2 được cho là tác nhân chủ yếu gây herpes sinh dục. Ngày nay, các trường hợp  nhiễm HSV1 sinh dục ngày một gia tăng, vượt quá 50% trong dân số nữ nên HSV1 cũng được xem là tác nhân gây ra loét sinh dục tái phát. Khoảng 70% số người lành nhiễm HSV nhưng không có triệu chứng. Khi sức khỏe giảm sút, có cơ hội thuận lợi, các HSV có sẵn trong cơ thể sẽ gây ra mụn rộp ở bộ phận sinh dục và các bộ phận khác. Có 40% số người nhiễm HSV lần đầu sẽ tái phát thành viêm loét sinh dục trong năm đầu (Benedetti J-1994).                            
Nhiễm herpes sinh dục nữ và dùng thuốc 1
Ảnh minh họa
Tỉ lệ nhiễm HSV ở nữ rất cao không chỉ  ở các nước đang phát triển mà cả ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, theo điều tra của Bệnh viện Từ Dũ trên 1.135 nữ (15 - 69 tuổi)  thấy nhiễm HSV1 98% nhiễm HSV2 là 35,2% tương đương với Hà Nội lần lượt là 99 - 11,3%. Tại Canada, nhiễm HSV1 là 51,1%, HSV2 là 9,1% (Howard M-2003), tỉ lệ thai phụ nhiễm HSV là 17,3% (Patrick DM -200).
Tốc độ nhiễm HSV tăng rất nhanh trên toàn cầu: Anh  tăng 6 lần  (1972 - 1994), Mỹ tăng 9,43 lần (1970 - 1994);  tốc độ tăng trong giai đoạn sau có giảm hơn trước, song vẫn còn nhanh: Pháp nhiễm HSV2 tăng gấp đôi (2000 - 2010).Việt Nam, ước nhiễm HSV (cả nam và nữ)  tăng 30% (1985 - 2010).
Nhiễm  herpes sinh dục sau 2 - 7 ngày thường có biểu hiện đau và ngứa. Vài giờ đến vài ngày sau giai đoạn đầu này thì vết loét  xuất hiện. Đầu tiên chỉ là một chỗ sưng đỏ nhỏ, mềm, đau, rồi trở nên mọng nước trong vòng một vài ngày; sau đó chúng vỡ miệng, trở thành vết loét, gây rỉ dịch hoặc chảy máu. Ở nữ, vết loét có thể ở vùng âm đạo, cơ quan sinh dục ngoài, mông, hậu môn, hoặc bên trong cổ tử cung. Ở nam, vết loét có thể ở dương vật, bìu, mông, hậu môn, đùi, niệu. Vết gây ra đau đớn rất nhiều khi đi tiểu; gây cơn đau đớn và nhiều cảm giác khó chịu khác ở vùng sinh dục.Trong giai đoạn bột phát, có thể có các triệu chứng nhiễm virút thông thường giống bệnh cúm, gồm sốt, nhức đầu và nổi hạch bẹn. Các dấu hiệu, triệu chứng trên có thể tái phát không thường xuyên, có thể qua hàng năm hay hàng tháng làm cho chất lượng cuộc sống người bệnh  bị giảm sút nghiêm trọng. Khoảng 30 - 40% số thai phụ nhiễm HSV có nguy cơ truyền bệnh cho con (qua cuống rốn hay lúc sinh), tập trung vào các tháng nửa sau thai kỳ gây viêm não, tổn thương não, loét giác mạc, mờ mắt hay tử vong cho trẻ.
Theo đó, việc điều trị nhiễm HSV rất cần thiết, đặc biệt càng cần thiết ở phụ nữ mang thai.
Các thuốc kháng HSV thường dùng
Bao gồm: acyclovir, famcyclovir, valacylovir.
Acyclovir:
Về dược tính: chất tương tự nucleosid (acycloguanosin), có tác dụng chọn lọc trên tế bào nhiễm HSV. Khi vào cơ thể, chuyển thành acyclovir monophosphat nhờ enzyme thimidinkinase của virút; sau đó chuyển thành aciclovir triphosphat nhờ các emzyme khác của tế bào. Acyclovir triphosphat ức chế tổng hợp DNA, ngăn cản sự nhân lên của virút mà không ảnh hưởng gì đến chuyển hóa của tế bào bình thường.
Acyclovirc tác dụng mạnh nhất với HSV1, kém hơn với HSV2, đặc biệt  có tác dụng tốt trong viêm não do HSV1 (làm giảm tử vong từ 70% xuống 20%, giảm tỉ lệ các biến chứng nghiêm trọng trên những người được chữa khỏi), cũng có tác dụng tốt trên thể viêm mãng não nhẹ hơn do HSV2.
Trong nhiễm HSV, acyclovir được dùng điều trị khởi dầu và dự phòng tái phát HSV2 đường sinh dục; điều trị khởi đầu và dự phòng tái nhiễm HSV1 và HSV2 ở da  niêm  mạc, viêm não do HSV1, viêm  màng não nhẹ do HSV2.
Về cách dùng: nguyên tắc: phải dùng sớm ngay khi có triệu chứng, dùng liều cao vì thuốc phân bổ rộng trong các dịch (âm đạo, nước mắt, thủy dịch, tinh dịch, dịch não tủy) và trong các tổ chức (não, thận, phổi, ruột, gan, lách, cơ, tử cung, niêm mạc), sinh khả dụng  đường uống trung bình 20% (15 - 30%). Phải dùng nhiều lần trong ngày vì chu kỳ bán thải ngắn (người lớn khoảng 3 giờ, ở trẻ em 2 - 3 giờ, ở trẻ sơ sinh 4 giờ). Phải dùng kéo dài đúng theo liệu trình (có thể dùng lặp lại khi bệnh tái phát hay dùng dự phòng hàng ngày ở liều thấp hơn, một vài trường hợp có khi còn dùng hầu như suốt đời theo từng định kỳ vì thuốc chỉ ổn định song không chữa khỏi hẳn bệnh). Theo đó, tùy theo tình trạng bệnh mà chọn cách, dạng, liều dùng thích hợp.
Dạng thuốc uống: trong đợt lâm sàng nhiễm herpes sinh dục đầu tiên: dùng 400mg x 3 lần/ ngày x 7 - 10 ngày. Sau đó có thể dùng trong từng đợt tái phát (400mg x 3 lần/ ngày x 5 ngày) hoặc dùng theo kiểu điều trị “khống chế tái phát” (dùng hàng ngày, 400mg x 2 lần /ngày). Dùng kiểu “khống chế tái phát” sẽ hạn chế tần suất tái phát đến 70%. Trong lựa chọn, ngoài việc tính lợi ích điều trị, cần lưu ý đến chi phí vì thuốc khá đắt.
Dạng thuốc tiêm truyền tĩnh mạch: thường chỉ dùng trong trường hợp nặng như nhiễm HSV tiên phát ở miệng hay sinh dục, nhiễm HSV ở trẻ sơ sinh, viêm giác mạc nặng do HSV. Thí dụ trong viêm não do HSV1 dùng 10mg/kg và cứ 8 giờ dùng một lần trong 10 - 14 ngày.
Dạng thuốc dùng tại chỗ: cần dùng kết hợp với thuốc toàn thân (uống hay tiêm tùy trường hợp). Với thuốc mỡ dùng ngay từ khi có triệu chứng, bôi lên nơi tổn thương  5 -  6 lần/ngày  trong 5 - 7 ngày. Với thuốc mắt mỗi ngày tra 5 lần và tiếp tục tra ít nhất là 3 ngày sau khi đã dùng liều điều trị đầu.
Về tính an toàn: Acyclovir cơ bản có tính an toán khá cao. Dùng uống ngắn hạn hay dài hạn (1 năm) có thể gặp nuồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, ban da, nhức đầu nhưng nhẹ; uống hàng ngày, kéo dài (6 năm) không thấy bị tai biến cấp hay mạn gì nghiêm trọng. Riêng trong truyền tĩnh mạch: thường gặp nhất là viêm tĩnh mạch ở vị  trí tiêm. Vì thuốc thải trừ qua thận nếu nồng độ cao sẽ gây kết tủa ở ống thận dẫn tới suy thận cấp nên liều dùng phải căn cứ theo hệ số thanh thải creatinin, tiêm truyền tĩnh mạch chậm (với thời  gian truyền trên 1 giờ ), tránh truyền nhanh hay truyền ngay một lượng lớn, khi dùng phải uống kèm đủ nước. Ít gặp hơn là các  phản ứng thần kinh - tâm thần (ngủ lịm, run, nhầm lẫn, ảo giác, cơn động kinh), tăng nhất thời ure, creatinin, enzyme gan trong máu. Nguy cơ suy thận tăng lên nếu dùng chung với các thuốc gây độc cho thận.
Valacyclovir:
Tiền chất của acyclovir, sản sinh ra acyclovir trong huyết thanh cao gấp 5 lần acyclovir. Vào cơ thể do phải chuyển hóa sang acyclovir mới có hiệu lực nên chậm hơn nhưng lại bền hơn. Liều dùng và số lần dùng trong ngày khác với acyclovir.
 Famciclovir:
 Vào cơ thể sẽ chuyển thành penciclovir có tác dụng chống HSV mạnh hơn, kéo dài hơn acyclovir.
Nhờ có tác dụng mạnh và kéo dài, trong đường uống, người ta thường thích dùng famciclovir, valacyclovir hơn.         
Ngoài 3 thuốc chính trên, người ta còn dùng một số thuốc khác như dùng loại mỡ chứa 3% denotivir trong tái phát herpes sinh dục, dùng moroxydin khi nhiễm HSV ở mắt.                                               
Tính an toàn của thuốc kháng HSV với người mang thai                                                         
 Nghiên cứu bằng cách tích lũy các số liệu dị tật trong những người mang thai phơi nhiễm thuốc trong danh bạ đăng ký thai (thường do nhà sản xuất tiến hành) hay trong những người mang thai phơi nhiễm thuốc trong quần thể chung, sau đó so sánh với tỉ lệ nền dị tật trong dân số.
Số liệu từ Danh bạ đăng ký thai acyclovir (từ 1984 - 1998, do hãng Glaxo welcom thực hiện): có 1.234 trường hợp người mang thai phơi nhiễm acyclovir trong 24 quốc gia, trong đó khảo sát 756 trường hợp phơi nhiễm acyclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ, thấy: nguy cơ trẻ sinh ra bị khuyết tật là 3,2%. Tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ khuyết tật nền trong dân số.
Số liệu từ những người mang thai phơi nhiễm trong quần thể chung (từ 1996 - 2008, do Đan Mạch thực hiện): trong số 837.795 trẻ em được thống kê có 1804 trẻ sinh ra từ bà mẹ bị phơi nhiễm acyclovir, valacyclovir, famciclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ. Tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ này không có sự  khác biệt so với tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ những bà mẹ mang thai không bị phơi nhiễm kháng sinh cũng không khác với tỉ lệ dị tật nền trong dân số. Kết quả tương tự cũng thấy ở trẻ sinh ra từ những bà mẹ bị phơi nhiễm các thuốc này trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ… Với dạng thuốc dùng ngoài: tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ bà mẹ mang thai bị phơi nhiễm các kháng sinh trong 3 tháng đầu thai kỳ lần lượt với acyclovir và valacyclovir là 2,3% (65/2.850 trẻ) và 4,2% (5/118 trẻ), không khác biệt với tỉ lệ dị tật ở nhóm trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang thai không bị phơi nhiễm. Những kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang thai bị phơi nhiễm các kháng sinh này trong 3 tháng giữa và cuối thai kỳ (Paasternat B-2010). Tóm lại, acyclovir, valacyclovir, famicyclovir uống hay dùng ngoài an toàn với thai trong suốt thai kỳ.
Theo nguồn suckhoedoisong.vn

Author Name

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.